Chương 22: Tập đoàn Trường Tú
Ở miền Nam, có rất nhiều cổ trấn tương tự như nơi này—tường trắng ngói đen, gạch xanh cổ kính, xen lẫn những công trình thật sự có tuổi đời hàng trăm năm. Tuy nhiên, phần lớn các công trình vẫn là nhà thương mại được xây mới bằng công nghệ hiện đại, giả cổ để phục vụ kinh doanh.
Phần lớn các cổ trấn lúc này đã bị thương mại hóa mạnh mẽ. Những cửa hàng nhỏ bán đồ trang sức san sát nhau, các món quà lưu niệm gần như giống hệt nhau ở mọi nơi. Nếu là cổ trấn vùng sông nước, tất yếu sẽ có các cô gái chèo thuyền nhỏ hát vang khúc dân ca, lững thững trôi qua các con kênh nhỏ hẹp.
Nhưng bối cảnh hiện tại là năm 2007—thời điểm mà quá trình thương mại hóa cổ trấn vẫn đang trong giai đoạn sơ khai. Internet tuy đã bắt đầu phổ cập, nhưng tự truyền thông (social media) vẫn chưa phát triển. Mô hình kinh doanh của cổ trấn vẫn phụ thuộc vào du lịch truyền thống, chưa hề có khái niệm như “quán cà phê check-in”, “trà sữa hot trên mạng”, càng chưa nói đến hoạt động nửa mở như lễ hội văn hóa.
Hoạt động tuyên truyền cho lễ hội văn hóa đã bắt đầu từ trước Tết. Các đơn vị tổ chức và những thương hiệu thủ công dệt truyền thống khác, do thói quen xưa cũ, vẫn chủ yếu tập trung vào quảng bá các buổi triển lãm thêu và dệt, với các kênh truyền thống như đài địa phương, báo giấy lớn, clip tuyên truyền thì mang phong cách trang trọng, chỉn chu, đậm chất “chính thống”.
Tuy nhiên, ở một nhóm kênh khác lại bắt đầu xuất hiện các hình thức tuyên truyền hoàn toàn khác biệt.
Trên các blog thời ấy—một dạng tiền thân của mạng xã hội—bắt đầu xuất hiện đủ loại thông tin bên lề: dã sử, giai thoại xoay quanh Tô thêu, Hán phục, các loại vải vóc thủ công khác, thậm chí cả các truyền thuyết về nguồn gốc cổ trấn, giai thoại về danh nhân từng đặt chân đến đây.
Một số tạp chí giải trí chuyên săn tin dành cho giới trẻ cũng bắt đầu đưa tin chuyên đề, nội dung đa dạng mà dễ tiếp cận. Trên các diễn đàn, có người còn lập hẳn topic bàn luận về lễ hội văn hóa.
Trong một bài viết đang rất hot, có người đăng tải toàn bộ màn biểu diễn catwalk trong buổi tiệc tất niên của một doanh nghiệp.
Sàn diễn đơn giản, những nữ công nhân mộc mạc sau khi tẩy trang, và hình ảnh họ trong bộ váy lộng lẫy trang điểm kỹ càng—tất cả tạo nên một cơn chấn động nhỏ giữa cộng đồng mạng.
Bởi vì bất kể thời đại có thay đổi thế nào, trong huyết mạch của người Trung Hoa vẫn luôn tồn tại một tình cảm khó tách rời dành cho văn hóa truyền thống—nhất là các yếu tố mang đậm phong vị quốc phong.
Có thể không hiểu hết, nhưng không có nghĩa là không thể thưởng thức.
Dù là Hán phục cổ điển nghiêm ngặt, hay các trang phục cải tiến hiện đại phù hợp với gu thẩm mỹ ngày nay—tất cả đều hấp dẫn ánh nhìn của người trẻ.
Đặc biệt là thời điểm diễn ra vào Tết Nguyên Tiêu, đúng dịp ai cũng rảnh rỗi, nhất là sinh viên đại học. Nhiều người coi đây là cơ hội lý tưởng để đi chơi, thậm chí có lớp học lên tiếng trên diễn đàn rằng: “Tiền quỹ lớp năm ngoái chưa tiêu hết, năm nay rủ cả lớp đi cổ trấn tham quan lễ hội luôn!”
Người đăng ảnh lên diễn đàn—tất nhiên chính là Tống Quân Bạch.
Tuy hiện tại cô đang làm vị trí tài vụ, nhưng với kinh nghiệm và tầm nhìn có được trong vài năm sau này, những kỹ năng marketing cơ bản như thế này với cô hoàn toàn không khó. Dưới sự ủng hộ của mẹ, cô dẫn theo mấy nhân viên trẻ trong công ty, cùng nhau tăng ca cật lực suốt mấy ngày liền để khuấy động truyền thông.
Hiệu quả thực tế thế nào thì còn phải đợi đến khi lễ hội văn hóa chính thức khai mạc mới biết được.
Ngày trước Tết Nguyên Tiêu, Tống Quân Bạch đưa Thẩm Lộ và Thẩm Thanh lên xe thương vụ của công ty mình, cùng đi tới cổ trấn.
Nơi ở là do mẹ Tống đặt trước, cả bà và đội ngũ tổ chức đều nghỉ tại đó. Vì khu triển lãm yêu cầu không gian khá lớn nên được bố trí ở bờ bên kia con sông, đối diện với phố thương mại.
Cảnh đêm ở khu phố cổ vô cùng đẹp mắt. Do vốn đã có lễ hội đèn lồng Tết Nguyên Tiêu nên hai bên đường và bờ sông đều được trang trí bằng đèn hoa lung linh rực rỡ.
Mẹ Tống cùng đội ngũ vẫn đang tăng ca gấp rút hoàn thiện những khâu xác nhận cuối cùng. Không có việc gì làm, Tống Quân Bạch liền đưa Thẩm Lộ và Thẩm Thanh đi dạo khu phố thương mại.
"Nhiều người quá!" Thẩm Thanh phấn khích đến sáng bừng hai mắt. Cậu bé chưa từng thấy đông người như vậy, chưa từng thấy nhiều đèn đẹp đến thế. Tiếc rằng dáng người thấp bé, dù có kiễng chân cũng chỉ thấy toàn là… chân người.
Tống Quân Bạch không nhịn được nữa:
"Cậu không thể bế nó lên à?"
Được chống lưng, Thẩm Thanh liền ngước đôi mắt long lanh nhìn Thẩm Lộ đầy chờ mong.
Thẩm Lộ bất lực trong giây lát, nhưng vẫn ngoan ngoãn giơ tay bế cậu nhóc lên.
Một lúc sau, phía trước có đám đông tụ lại không biết đang xem gì, Thẩm Thanh lại hăng hái:
"Chúng ta cũng đi xem đi!"
Đến cả Tống Quân Bạch cũng không nhịn được thở dài:
"Đông quá, chen không vô đâu."
Thẩm Thanh vẫn tiếp tục ánh mắt long lanh khẩn cầu.
Thẩm Lộ nhìn cái dáng "được đà lấn tới" của nhóc què một lúc, rồi không nói gì, vươn tay nhấc cậu nhóc lên thêm một đoạn nữa, để cậu ngồi hẳn lên vai mình.
Thẩm Thanh phấn khích đến mức giơ cả nắm tay nhỏ xíu lên vẫy lia lịa.
"Nhìn thấy chưa?" Thẩm Lộ hỏi.
"Thấy rồi! Là một chiếc đèn sư tử siêu to siêu đẹp!"
"Ừ." Thẩm Lộ đáp xong liền giơ tay kéo cậu nhóc từ trên vai xuống.
Thẩm Thanh sững người.
"Không phải là thấy rồi à? Em còn muốn gì nữa?"
Thẩm Thanh chớp chớp mắt, không trả lời được, nhưng trong lòng rõ ràng là đang giận. Cậu bé bặm môi, vùng ra khỏi tay Thẩm Lộ rồi quay sang nắm lấy tay Tống Quân Bạch.
"Muốn ăn kẹo hồ lô không?"
Quả là một nhóc con ngây thơ, dễ dỗ—một xiên kẹo hồ lô đã đủ khiến cậu ta quên ngay ông anh không có lương tâm của mình mà nhe răng cười toe toét.
"Chị Tiểu Bạch ơi, mấy chị đằng kia là người lên biểu diễn hả?"
Thẩm Thanh vừa gặm kẹo vừa chỉ về phía mấy cô gái trẻ đang dựa vào lan can chụp ảnh.
Tống Quân Bạch nhìn theo, vô thức nhướng mày:
"Không phải đâu, họ giống bọn mình thôi, cũng đến đây chơi."
"Họ mặc đồ đẹp quá."
Tống Quân Bạch bật cười.
Vào năm 2007, văn hóa "tam khố" (Hán phục – Lolita – JK) vẫn chưa phổ biến, nên gặp được người mặc Hán phục ở nơi như thế này đúng là khá hiếm. Mà quan trọng hơn, mấy bộ trang phục kia được cắt may cẩn thận, không phải loại lòe loẹt kiểu ảnh viện áo cưới thường thấy, dù kiểu dáng vẫn còn một vài điểm lệch chuẩn.
"Đẹp thật đấy. Chị cũng chuẩn bị sẵn cho em rồi, mai bọn mình cũng mặc mấy bộ như thế này ra chơi nhé."
Thẩm Thanh mừng rỡ, hí hửng hết biết—cậu bé rất thích được chị Tiểu Bạch chuẩn bị đồ mới cho.
Thẩm Lộ thì lại có chút phức tạp:
"Đồ cổ trang à?"
"Không hẳn là cổ trang, chỉ là có thêm một số chi tiết truyền thống thôi, mặc hàng ngày vẫn được." Tống Quân Bạch chỉ vào trang phục của mấy cô gái lúc nãy.
Thẩm Lộ cẩn trọng hỏi:
"Tôi cũng phải mặc à?"
Tống Quân Bạch liếc hắn từ đầu đến chân—một cây đen thui từ áo khoác phao tới quần jeans—rồi lại nhìn sang khung cảnh tràn ngập ánh đèn lồng rực rỡ xung quanh, ánh mắt chẳng cần nói cũng rõ ý.
Thẩm Lộ: …
Hôm sau, ba người cùng nhau ăn mặc chỉnh tề tới xem triển lãm.
Vì trời lạnh nên bên ngoài bộ đồ của Thẩm Thanh được khoác thêm một chiếc áo choàng nhỏ màu đỏ, nhìn chẳng khác nào một phiên bản nhí của cô bé quàng khăn đỏ—xinh xắn vô cùng.
Trang phục của Tống Quân Bạch và Thẩm Lộ thì đơn giản và hiện đại hơn nhiều, nhưng với những chi tiết thêu nổi bật, vẫn dễ dàng khiến hai người nổi bật hẳn giữa đám đông.
Bên trong khu triển lãm vô cùng náo nhiệt. Gian hàng của nhà họ Tống được đặt ở một vị trí rất nổi bật, từ xa đã có thể nhìn thấy vài gương mặt quen đang đứng giữa một vòng người, say sưa giới thiệu gì đó.
Tống Quân Bạch và hai người kia đi đến gần, lẫn vào đám đông, cũng không vội lên tiếng chào hỏi mà lặng lẽ đứng lại nghe một lát.
Bỗng nhiên, từ phía bên cạnh vang lên tiếng thì thầm bàn tán của vài du khách trung niên.
Một người đàn ông khoảng bốn mươi nói nhỏ:
"Tôi thấy đồ họ làm chẳng ra sao cả. Anh nhìn mấy mẫu bên kia xem, hoàn toàn chẳng còn gì gọi là truyền thống nữa. Thêu thùa là thứ cần có chiều sâu, họ thiết kế thế kia, rõ ràng là cố lấy lòng đám trẻ tuổi."
Một người khác gật đầu phụ họa:
"Cũng đúng thôi, nhưng vì làm ăn thì cũng có thể hiểu được. Dù sao thì cũng không phải ai cũng như nhà chúng ta, có thể làm dòng cao cấp đặt riêng. Bọn họ nhắm vào thị trường trung cấp, thấp cấp, cũng là điều bình thường."
"Hừ, vì kiếm tiền mà ngay cả truyền thống cũng vứt bỏ—tôi thấy họ vứt luôn cả danh dự đi cho rồi!"
"Sư huynh, nói vậy hơi quá rồi. Không phải ai cũng có tay nghề và quan hệ như anh đâu. Giờ thêu máy phổ biến thế kia, thợ thủ công còn bị chèn ép đến không sống nổi, ai còn rảnh mà giữ gìn truyền thống với văn hóa chứ."
...
Hai người cứ thế đối đáp qua lại một lúc. Tống Quân Bạch nghe mà chau mày. Người đầu tiên rõ ràng là kiểu thẳng ruột ngựa, có lẽ do tay nghề cao, mắt nhìn cũng cao, nên chẳng xem ai ra gì. Nhưng người thứ hai mới thật đáng ghét—miệng thì như đang khuyên can, thực chất lại thêm dầu vào lửa, nói năng không chê vào đâu được nhưng từng lời từng chữ đều cay nghiệt.
"Đủ rồi, đừng nói nữa. Một đám già rồi mà chẳng ra thể thống gì."
Tiếng quát vang lên, Tống Quân Bạch nhìn theo—là một bà lão tóc bạc trắng, đang đứng giữa nhóm người đang vây quanh gian hàng.
"Không phải các người tới để xem thêu tay hai mặt ba dị sao? Quan tâm gì người ta làm thiết kế kiểu gì? Không ăn trộm, không lừa đảo, thì làm gì cũng là chuyện chính đáng."
Giọng nói bà lão nghiêm khắc, ánh mắt sáng quắc dù tuổi đã cao. Khi ánh mắt bà quét qua những người đàn ông vừa bàn tán khi nãy, tất cả đều theo phản xạ cúi đầu lặng thinh.
Mười giờ sáng đúng giờ, bộ sưu tập Thêu Tay Hai Mặt Ba Dị (Song diện tam dị thêu) mới chính thức được ra mắt.
Chiếc rèm trắng được mẹ Tống trong bộ sườn xám lễ phục đích thân kéo xuống, để lộ hơn mười tác phẩm thêu tay vô cùng đặc biệt.
Các giá đỡ đều là thiết kế mới, có thể xoay tròn để trưng bày, ánh sáng tại khu vực trưng bày cũng được điều chỉnh riêng, nhằm tôn vinh vẻ đẹp đặc dị của từng tác phẩm.
Những người trong giới chuyên môn đã chờ từ sáng sớm chỉ để xem được khoảnh khắc này—lúc ấy tất cả đều lặng như tờ.
Một hồi lâu sau, mới có người khe khẽ hít một hơi.
"Thật sự là thêu hai mặt ba dị, mà còn ở trình độ cao đến thế này… Nhà họ lấy từ đâu ra vậy?"
"Kinh ngạc thật… Cậu nhìn mũi kim này, phối màu kia… quá đỉnh luôn…"
"Không biết là tác phẩm của vị đại sư nào…"
"Trên sổ giới thiệu có ghi, người làm tên là 'Dư Nhụ'—chưa từng nghe qua cái tên này…"
"Cậu nói là ai?"
Bà lão tóc bạc trắng—người đã im lặng nãy giờ từ lúc nhìn thấy những tác phẩm đầu tiên—như bị điện giật. Mặc cho các hậu bối xì xào bên cạnh, bà vẫn không nói lời nào. Giờ đây, như bừng tỉnh khỏi giấc mộng, bà bất ngờ đưa tay, gần như thất lễ, túm lấy cánh tay người vừa nói.
Người kia không cùng nhóm với họ, là một khách xem triển lãm tình cờ. Trên tay người đó đang cầm tập giới thiệu được phát ở cổng triển lãm.
Thấy là một cụ già, người nọ cũng không phản ứng gay gắt, kiên nhẫn đưa tay chỉ vào dòng chữ nhỏ in trên tập sách:
"Những tác phẩm thêu tay ba dị hai mặt này là do một người tên Dư Nhụ thực hiện. Không biết là vị đại sư ẩn danh nào—trước giờ tôi cũng chưa từng nghe tên."
Bà lão ngẩn người mất một lúc, sau đó lập tức buông tay người kia, xoay người bước nhanh về phía khu trưng bày.
Để bảo vệ những tác phẩm quý, khu trưng bày được chắn bằng dây phân cách, cách một khoảng hơn một mét để người xem có thể quan sát rõ mà không dễ chạm vào.
"Mẹ, mẹ định làm gì đấy—"
Người đàn ông trung niên vừa nói chuyện lúc nãy hoảng hốt đưa tay ngăn lại nhưng không kịp. Bà lão động tác lanh lẹ, người lại nhỏ, vén dây phân cách rồi chui tọt vào bên trong, đi thẳng đến chỗ mẹ Tống đang đứng.
Hai nhân viên đang canh khu vực vội vàng chạy lại, nhưng vì đối phương là một cụ già, nên họ cũng không dám mạnh tay ngăn cản.
"Xin hỏi bà có việc gì—" Mẹ Tống tuy hơi khó chịu khi thấy có người đột nhiên xông vào khu triển lãm, nhưng vẫn cố giữ lễ phép mà cất lời.
"Dư Nhụ... Dư Nhụ ở đâu?" Bà lão ngắt lời, giọng run run đầy khẩn thiết, đôi mắt đã rơm rớm nước.
Tống Quân Bạch và Thẩm Lộ lập tức cảm thấy có điều gì đó không ổn. Họ dẫn Thẩm Thanh vòng ra cổng khu triển lãm. Nhân viên nhận ra Tống Quân Bạch, liền cho ba người vào trong không chút do dự.
"Dư Nhụ là bà nội của cháu. Xin hỏi bà là..."
"Cháu... có phải họ Thẩm không?"
"Vâng."
"Ông nội cháu tên là Thẩm Chính Đạo?"
"Là ông ấy ạ."
Bà lão đứng lặng một lúc, toàn thân run lên vì xúc động, mãi mới thốt ra được vài lời:
"Quả nhiên là chị Nhụ… Chị ấy… chị ấy vẫn…"
Thẩm Lộ cụp mắt xuống:
"Bà cháu mất năm ngoái rồi."
Gương mặt bà lão cứng đờ lại, những lời muốn nói bị nghẹn nơi cổ họng.
Sự việc bất ngờ khiến không khí ở khu triển lãm rơi vào trạng thái mất kiểm soát. Mẹ Tống vội vàng đưa bà lão vào khu nghỉ dành cho nhân viên phía sau sân khấu, mời bà ngồi xuống bình tĩnh lại. Hai người đàn ông trung niên đi cùng bà lão cũng bước vào theo, ánh mắt quan sát lướt qua mọi thứ xung quanh với thái độ khá tuỳ ý.
Bà lão vẫn chưa kịp lấy lại bình tĩnh, thì hai người đàn ông đã nhanh chóng đưa danh thiếp cho mẹ Tống.
Trên đó in rõ ràng ba chữ: Tập đoàn Trường Tú
Mắt mẹ Tống thoáng mở lớn.
Tập đoàn Trường Tú có vị trí cực kỳ cao trong giới nghệ thuật truyền thống. Tác phẩm của họ rất hiếm, nhưng mỗi món đều được đấu giá riêng, cách đây hơn mười năm từng có tác phẩm được dùng làm quốc lễ, tặng cho nguyên thủ quốc gia ở Đông Nam Á.
Họ được ví như "trần nhà" của ngành, đỉnh cao mà người thường không với tới. Ngoài lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, gia tộc này còn lấn sân sang mảng thời trang cao cấp mang phong cách cổ điển Trung Hoa (quốc phong cao định)—thứ mà đại đa số người bình thường còn chưa từng được tận mắt thấy.
Một trong hai người đàn ông mỉm cười, dường như rất hài lòng với thái độ khiêm tốn của mẹ Tống:
"Sản phẩm của quý công ty cũng khá đấy. Cảm giác rất mới mẻ."
"Cảm ơn anh đã khen." Mẹ Tống đáp lễ.
Người đàn ông lại chậm rãi nói tiếp:
"Nhưng làm nghề thủ công truyền thống, bước đi vẫn nên cẩn thận, đừng vội vàng quá… nếu không, dễ rơi vào cảnh làm mất lòng cả hai phía đấy."
Nói xong, ánh mắt ông ta đảo qua những món đồ trưng bày ở bên ngoài—một cái nhìn đầy hàm ý.
Mẹ Tống còn chưa kịp đáp lại, thì bà lão đã mạnh mẽ đập bàn:
"Cái gì mà hai bên không làm vừa lòng! Đồ thủ công truyền thống thì sao? Chẳng lẽ phải quấn giẻ vào chân, cả đời chỉ biết nhìn chằm chằm vào những thứ tổ tiên để lại mà làm tiếp mãi à?"
Người đàn ông trung niên bị quát mà sững cả người, hoàn toàn không ngờ mẹ mình lại mất mặt với người ngoài như vậy.
Bà lão tức đến mức ngực phập phồng, đôi mắt đã rưng rưng. Bà lấy khăn lụa ra lau nước mắt, rồi lại tiếp tục nói:
"Thế nào mới gọi là 'truyền thống'? Cái còn sống mới đủ tư cách gọi là truyền thống, cái không thể sống tiếp—chỉ là lịch sử."
Bà liếc qua Thẩm Lộ, lại nhìn sang Thẩm Thanh, ánh mắt dịu lại:
"Mấy người quên rồi sao, tay nghề nhà chúng ta được truyền lại thế nào?"
Tập đoàn Trường Tú ban đầu vốn là một xưởng thủ công gia truyền họ Ngô.
Gia tộc Ngô từ thời nhà Thanh đã làm nghề tơ lụa, sản phẩm lụa thêu từng được tiến cung. Sau đó thịnh suy nhiều lần, nhưng chưa bao giờ để đứt đoạn truyền thống. Kỹ nghệ thêu tay hai mặt ba dị chính là kỹ thuật tiêu biểu nhất của nhà Ngô.
Nhưng rồi, vào thời kỳ biến động dữ dội trong lịch sử, cả nhà Ngô suýt chút nữa bị xóa sổ.
Báu vật truyền đời bị đốt sạch, những nghệ nhân từng được kính trọng nửa đời người thì bị mang bảng bêu riếu, xua đuổi khắp phố, sống trong chuồng bò, ăn đồ thừa. Có người không chịu được, đã tự tử. Có người chịu đựng được, nhưng tay đã tàn, cầm kim không nổi.
Duy nhất một người còn giữ được truyền thừa—chính là cô con gái út của nhà Ngô tên Ngô Niệm Từ, lúc đó đang học ở Bắc Kinh.
Cũng chính là bà lão đang đứng trước mặt họ hôm nay—một huyền thoại sống trong ngành.
"Năm đó tôi đang học đại học ở Bắc Kinh, vì chuyện nhà mà bị buộc thôi học, không còn nơi nào để đi, chính là nhà họ Dư đã cưu mang tôi. Tôi phải mượn danh là cô giáo của con gái nhà họ mới có thể tiếp tục sống được."
Con gái nhà họ Dư, chính là bà nội của Thẩm Lộ—Dư Nhụ. Nhà họ Dư là danh gia vọng tộc ở miền Bắc. Trong giai đoạn khó khăn ấy, họ cũng không bình yên, nhưng "gầy vẫn to hơn ngựa", vẫn có cách để tự bảo vệ. Ngô Niệm Từ nhờ vậy mà không bị đưa đi nông trường tận Tây Bắc.
Ở nhà họ Dư mấy năm, không có gì báo đáp, bà truyền lại kỹ nghệ thêu tay hai mặt ba dị cho Dư Nhụ.
Sau này, Dư Nhụ lấy Thẩm Chính Đạo, hai vợ chồng trẻ cùng chuyển vào Nam. Còn gia tộc Ngô cũng vượt qua thời kỳ đen tối. Ngô Niệm Từ trở về Tô thị, cùng những người còn sót lại trong gia tộc, gây dựng lại cơ nghiệp, và từ đó mới có Tập đoàn Trường Tú của hôm nay.
"Lúc hấp hối, cha tôi để lại cho tôi một lá thư, trong đó viết rằng: Truyền thống xưa nay không phải để một gia tộc giữ riêng như kho báu, mà khi đứng trước hiểm họa thực sự, việc chúng ta cần làm không phải là giấu giếm cất giấu, đợi nó mục rữa trong lòng đất, mà là phải chủ động thay đổi, chủ động lan tỏa—để nó có thể được truyền lại bằng một hình thức phù hợp với thời đại hơn."
Ngô lão thái thái nhìn người con trai cả, trong mắt đầy thất vọng:
"Nếu năm đó ta không thể thoát khỏi tai họa, thì những tác phẩm thêu tay hai mặt ba dị trước mặt chúng ta đây—chính là bằng chứng duy nhất cho thấy nhà họ Ngô đã từng tồn tại."
Nhận xét Box