Thấm thoắt đã đến cuối tháng Hai, kỳ thi của lớp Kỳ Hoàng sẽ diễn ra vào ngày 28 tháng Hai.
Người chủ khảo trong kỳ thi lần này là Phó viện sứ của Thái Y Cục, Thái y Phó. Mấy ngày trước kỳ thi, Lục Lân đã tìm đến Thái y Phó để hỏi về tình hình kỳ thi của lớp Kỳ Hoàng.
Vốn dĩ, việc tuyển sinh của lớp Kỳ Hoàng không phân biệt nam nữ, không có quy định nào cấm nữ sinh nhập học. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa từng có nữ sinh nào đăng ký, cũng chưa từng nhận nữ sinh. Vì không có tiền lệ, lại không có đơn xin học kèm theo sự bảo lãnh của y quan, nên việc Sư Uyển được gia nhập lớp Kỳ Hoàng là do Lục Lân nhờ cậy Thái y Phó.
Mặc dù Thái y Phó không trực tiếp giảng dạy ở lớp Kỳ Hoàng, nhưng cũng đã nghe nói về tình hình của Sư Uyển trong lớp.
Người học bất kỳ kỹ năng nào thường rơi vào bốn loại: loại thứ nhất là có thiên phú nhưng lười biếng; loại thứ hai không có thiên phú nhưng siêng năng; loại thứ ba vừa không có thiên phú, vừa không siêng năng; và loại thứ tư là vừa có thiên phú, vừa siêng năng.
Những người có thể vào lớp Kỳ Hoàng gần như không có loại thứ ba, hầu hết đều thuộc ba loại còn lại. Và Sư Uyển thuộc loại được thầy cô yêu thích nhất—vừa có thiên phú, vừa chăm chỉ.
Điều này khiến Thái y Phó cảm thấy yên tâm. Ban đầu, việc ông đồng ý cho Sư Uyển vào lớp Kỳ Hoàng là do nể mặt Lục Lân. Dù đã có bài kiểm tra sơ tuyển, ông vẫn lo ngại rằng quyết định này có thể khiến mình bị chỉ trích. Nhưng thực tế đã chứng minh, Sư Uyển không chỉ không làm ông mất mặt mà còn giúp ông được khen ngợi, đặc biệt là khi Thục phi rất yêu quý nàng.
Hiện tại, Lục Lân quan tâm đến Sư Uyển, Thái y Phó liền khen ngợi:
“Dù là nữ tử, nhưng ý chí và nỗ lực của Sư đại phu không thua kém gì nam nhân. Thành tích của nàng trong lớp Kỳ Hoàng luôn thuộc nhóm dẫn đầu. Đại nhân cứ yên tâm, ta nghĩ kỳ thi lần này nàng sẽ không gặp vấn đề gì đâu.”
Lục Lân đáp:
“Ta không lo nàng sẽ gặp vấn đề, chỉ e rằng thân phận nữ giới của nàng sẽ ảnh hưởng đến kết quả. Ta biết gần đây chắc hẳn có không ít người tìm đến Thái y Phó để nhờ vả. Nhưng số người được thông qua trong kỳ thi này lại bị giới hạn, số lượng rất ít.”
Thái y Phó hiểu ý của Lục Lân, liền vội vàng nói:
“Lục đại nhân yên tâm, kỳ thi của Thái Y Cục nhất định công bằng, chính trực. Dù người khác có nhờ vả thế nào, cũng sẽ không có chuyện thiên vị. Nói đến đây—”
Thái y Phó lấy ra một cuộn giấy:
“Đây là đề thi ta đã soạn sẵn trong mấy ngày qua. Lục đại nhân từng là bảng nhãn trong kỳ thi đình năm đó, liệu có thể dùng con mắt của một người từng trải qua khoa cử để xem xét giúp ta, đề thi này có hợp lý không? Liệu có thể đánh giá đúng năng lực thật sự của học viên không?”
Lục Lân giơ tay ngăn lại, nghiêm túc đáp:
“Đa tạ Thái y Phó đã tin tưởng, nhưng ta không thể xem đề thi này. Bởi vì ta có mối quan hệ cá nhân với một thí sinh. Nếu ta, dựa vào sự tin tưởng của Thái y Phó, mà xem đề thi, rồi vô tình để lộ nội dung cho Sư đại phu, thì làm sao có thể xứng đáng với những nỗ lực của nàng trong lớp Kỳ Hoàng?”
Thái y Phó mỉm cười, thu lại cuộn giấy:
“Lục đại nhân và Sư đại phu đều là những người có phong thái quân tử.”
Ngày 28 tháng Hai, kỳ thi lớn của lớp Kỳ Hoàng bắt đầu.
Đề thi chia thành ba phần:
1- Phần thứ nhất là thi viết, kéo dài một canh giờ.
2- Phần thứ hai là phỏng vấn với các giám khảo, trả lời câu hỏi về bệnh án hoặc chia sẻ lý tưởng và động lực khi chọn nghề y. Kết quả của mỗi vòng sẽ quyết định việc học viên có bị loại hay không.
3- Phần thứ ba, cuối cùng, là chẩn đoán và điều trị bệnh nhân thực tế.
Hai phần đầu tiên chủ yếu tập trung vào chuyên môn, bao gồm kiến thức toàn diện và dược điển bắt buộc. Phần cuối cùng lại đánh giá kỹ năng trong chuyên ngành mà học viên sở trường.
Sư Uyển xuất sắc vượt qua hai phần thi đầu, cùng hơn mười thí sinh khác tiến vào phần thi thứ ba.
Bất ngờ hơn cả là sự xuất hiện của Trình viện chính—một người đã hơn bảy mươi tuổi, nổi tiếng đức cao vọng trọng, chỉ chuyên khám bệnh cho hoàng thượng. Ông vốn chưa từng tham gia các kỳ thi trước đây, việc ông đột ngột xuất hiện khiến tất cả giám khảo đều kinh ngạc. Mọi người vội vàng thêm ghế và kính cẩn mời ông ngồi vào vị trí.
Trình viện chính với khuôn mặt nghiêm nghị, không nói lời nào, ngồi vào hàng ghế giám khảo của phần thi thứ ba cùng các thái y khác.
Vốn dĩ, người chủ khảo là Phó viện sứ Thái y Phó, nhưng với sự xuất hiện của Trình viện chính, vai trò chủ khảo rõ ràng đã thuộc về ông.
Nghe các thí sinh khác xì xào bàn tán, Sư Uyển mới biết người này chính là viện chính. Trình viện chính không viết sách y học như những người khác, nhưng danh tiếng của ông đã vang xa. Nàng cũng từng nghe qua về ông—một người có y thuật xuất chúng, nhưng tính cách lại vô cùng cố chấp và bướng bỉnh.
"Cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc truyện tại nơi mà bé mèo Bơ nhà chúng mình luôn được nhắc đến với tất cả yêu thương. Hy vọng những câu chuyện nơi đây mang lại cho bạn niềm vui, giống như cách Bơ mang lại niềm vui cho chúng mình!"
Các thí sinh biết được điều này, ai nấy đều cảm thấy căng thẳng hơn hẳn.
So với các thí sinh khác, Sư Uyển tương đối thoải mái hơn, bởi họ đều mong muốn được vào Thái Y Cục, trong khi nàng chỉ cần vượt qua kỳ thi, không quá đặt nặng về tương lai.
Thái Y Cục tổ chức kỳ thi rất công bằng. Vì Sư Uyển chuyên về phụ khoa, bệnh nhân được giao cho nàng là một phụ nữ nhiều năm không có con, lại mắc chứng bệnh hoa liễu, giấc ngủ kém và khó sâu giấc.
Sư Uyển kê một đơn thuốc thang điều trị và bổ sung thêm một “đơn thuốc” khác: yêu cầu cả hai vợ chồng cùng điều trị bệnh hoa liễu. Hằng ngày, vào giờ Tuất (khoảng 19-21 giờ), hai vợ chồng phải phụng dưỡng cha mẹ, chờ cha mẹ ngủ thì người chồng phải đến trước bài vị tổ tiên quỳ gối sám hối nửa canh giờ, sau giờ Hợi (khoảng 21-23 giờ) mới được đi ngủ. Như vậy, nhờ tổ tiên phù hộ, cơ thể sẽ khỏe mạnh hơn và họ sẽ sớm có con.
Hội đồng giám khảo gồm tám người. Dù Thái y Phó không giảng dạy trực tiếp nhưng hiểu rõ mối quan hệ giữa nàng và Lục Lân. Các giám khảo khác phần lớn đều biết một chút về Sư Uyển, lại từng giảng dạy nên đa phần có thiện cảm hoặc nể mặt Lục Lân mà ủng hộ nàng.
Nhưng Trình viện chính thì không chắc như vậy. Ông nổi tiếng ghét cay ghét đắng các thầy thuốc lang băm hay đạo sĩ dùng tà thuật. Đơn thuốc thang của Sư Uyển không có vấn đề gì, nhưng phần bổ sung về phụng dưỡng cha mẹ và quỳ bái tổ tiên rõ ràng dễ gây hiểu lầm là mê tín. Điều này khiến vị trí của nàng trở nên bấp bênh.
Quả nhiên, Trình viện chính nhìn vào đơn thuốc, nét mặt nghiêm nghị, hỏi:
“Phụng dưỡng cha mẹ vào giờ Tuất, quỳ bái bài vị tổ tiên sau khi cha mẹ ngủ, đây là đang chữa bệnh gì vậy?”
Sư Uyển biết trước điều này khi viết đơn thuốc.
Thực ra, chỉ cần kê đơn thuốc thang là đủ để an toàn, không ai có thể trách cứ nàng. Nhưng nếu là khám bệnh thực sự, nàng sẽ kê thêm “đơn thuốc” kia, vì đó là cách chữa bệnh nàng cho là hiệu quả nhất.
Sự do dự ấy cuối cùng đã dẫn đến quyết định của nàng: nàng muốn trình bày toàn bộ tư duy và phương pháp chữa bệnh của mình, không che giấu gì cả, dù điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả thi.
Nàng trả lời:
“Thưa giám khảo, theo lời nói và hành vi của người phụ nữ đó, bà ta là một phụ nữ đức hạnh, nhưng chồng bà lại hay lui tới thanh lâu, khiến bà bị lây bệnh hoa liễu. Việc không có con là do huyết ứ khí trệ, cộng thêm tâm tình không thông suốt, gan khí uất kết. Bệnh mất ngủ cũng là do tâm tình không thoải mái mà ra.
Huyết ứ khí trệ có thể dễ dàng chữa trị bằng thuốc, nhưng các vấn đề về tâm lý và tình cảm thì khó hơn nhiều.”
“Cô nương ấy nhiều năm không có con, chắc chắn chồng và cha mẹ chồng đều có lời trách móc. Điều này càng làm bệnh tình của cô ấy nặng thêm. Ta biết chồng cô ấy tuy phong lưu đa tình nhưng vẫn là người lương thiện và hiếu thảo. Khi để hắn phụng dưỡng cha mẹ và quỳ bái tổ tiên, cha mẹ hắn sẽ nghĩ rằng chính con trai họ thất đức, khiến tổ tiên nổi giận và gia đình không có người nối dõi. Như vậy, họ sẽ không đổ lỗi hoàn toàn cho con dâu, tâm trạng cô nương ấy sẽ được cải thiện phần nào.
“Quan trọng nhất là, các thanh lâu thường náo nhiệt nhất sau giờ Tuất. Lúc đó, nếu chồng cô nương ấy phải ở nhà phụng dưỡng cha mẹ và quỳ bái tổ tiên, trong lòng hắn sẽ cảm thấy tội lỗi. Sau khi tội lỗi lắng lại, thời gian đã muộn, có lẽ hắn sẽ không còn hứng thú đến thanh lâu nữa, mà sẽ ở bên vợ mình. Lâu dần, khi cơ thể của người vợ được điều chỉnh, họ sẽ có con, và tất cả các triệu chứng của cô ấy sẽ dần dần biến mất.”
Trình viện chính nhìn nàng thêm vài lần, gật đầu rồi nở một nụ cười hiếm hoi:
“Thuốc thang chỉ chữa phần ngọn, nhưng phần sau mới là trị tận gốc. Cô không chỉ kê thuốc cho cơ thể, mà còn kê thuốc cho tâm lý. --Truyện Nhà Bơ - - Mọi người thấy không, đây mới chính là tâm niệm của một người hành y chân chính. Ta phán định, thông qua.”
Các giám khảo khác lần lượt giơ bảng đồng ý.
Buổi thi diễn ra tại Quốc Tử Giám kéo dài đến khi màn đêm buông xuống.
Khi Sư Uyển rời khỏi Quốc Tử Giám, Tỳ Bà đã đứng đợi nàng bên ngoài. Thấy nàng bước ra, Tỳ Bà lập tức hỏi:
“Sư phụ, thế nào rồi? Qua chưa? Con nghe nói có một vị lão thái y rất nghiêm khắc, là viện chính, rất nhiều người bị chê bai đơn thuốc không đạt.”
Sư Uyển mỉm cười, đáp:
“Ông ấy chẳng nghiêm khắc đâu. Ông ấy rất tốt, là người đầu tiên cho ta qua.”
Tỳ Bà vui vẻ reo lên:
“Sư phụ giỏi quá, giờ thì có thể làm thái y được rồi!”
Bên cạnh, một vài thí sinh khác cúi đầu thất vọng đi ngang qua. Để tránh kích động đồng môn, Sư Uyển khẽ "suỵt" một tiếng, khiến Tỳ Bà kìm nén niềm vui lại, rồi hỏi tiếp:
“Vậy còn tấm kim bài mà Thục phi nương nương từng nhắc tới, có không sư phụ?”
"Những thí sinh khác vượt qua kỳ thi cũng phải đợi thêm hai ngày mới nhận được tin mừng và chính thức vào Thái Y Cục. Ta cũng vậy, phải chờ hai ngày nữa, còn tấm kim bài thì cần thời gian để chế tác," Sư Uyển giải thích.
Tỳ Bà phấn khích nói:
"Sư phụ, chúng ta đi ăn mừng đi! Đến quán nướng heo sữa kia, ăn một bữa thịnh soạn chúc mừng."
"Con đúng là tham ăn, lúc nào cũng nghĩ đến ăn uống," Sư Uyển cười, rồi trêu: "Ăn heo làm gì, để ta dẫn con đi ăn thịt dê."
"Thật sao? Sư phụ không đùa chứ?"
"Ta trông giống đang đùa không? Nhân tiện, chỗ kia có trạm cho thuê xe ngựa, chúng ta qua đó hỏi xe ngựa về An Lục."
"Ồ, đúng vậy. Đợi thêm chút nữa, chủ nhà của sân viện chắc sắp quay lại rồi. Đến khi sư phụ mang tấm kim bài Thái Y Cục về An Lục, chắc chắn sư phụ sẽ trở thành người đứng đầu thực sự của hội y dược ở An Lục!"
Tỳ Bà vừa khoác tay Sư Uyển vừa vui mừng ríu rít, cùng nhau hướng về phía cầu Hồng.
Lục Lân đứng từ bên cạnh Quốc Tử Giám, xuất thần nhìn bóng dáng hai người họ dần khuất xa. Thấy họ vui vẻ, khóe miệng hắn khẽ nhếch lên nở một nụ cười.
Là một nữ đại phu, nàng đã làm được tất cả những gì nàng có thể.
Nhưng rồi nụ cười ấy chậm rãi lụi tàn. Họ đã chuẩn bị để rời đi, từ nay sẽ không quay lại kinh thành nữa.
Hắn đứng rất lâu trước cổng Quốc Tử Giám, rồi cuối cùng chậm rãi quay về Lục phủ với tâm trạng nặng trĩu.
Về đến nhà, hắn cho gọi vợ của Chu Thiết Vượng, tức Trương thị, đến gặp.
Hiện tại, Sư Uyển không muốn gặp hắn. Nếu hắn cử xe ngựa của Lục gia đưa nàng về, e rằng nàng sẽ từ chối. Nhưng nếu là người đã đưa nàng về An Lục lần trước, nàng có thể sẽ đồng ý.
Hắn biết, lần trước người đưa Sư Uyển về là cha con Trương Ngũ, anh trai của Trương thị.
Trương thị không thường xuyên Truyện 🅝hà 🅑ơ lui tới ngoại viện, cũng chưa từng phục vụ tại Thanh Thư Các hay Viện Trầm Hương, nên rất ít khi gặp mặt Lục Lân. Lần này gặp hắn, nàng tỏ ra vô cùng sợ hãi, không dám ngẩng đầu lên.
Lục Lân đi thẳng vào vấn đề:
“Lần trước đưa Nhị thiếu phu nhân về An Lục, là anh trai của ngươi, tên Trương Ngũ đúng không?”
Trương thị lập tức quỳ xuống, giọng run rẩy:
“Dạ... đúng ạ...”
Lời Lục Lân chững lại. Trước đây khi còn ở An Lục, hắn đã nhiều lần thăng đường xét xử các vụ án, tiếp xúc không ít với những kẻ phạm tội. Trạng thái của Trương thị lúc này thật sự không đúng, nàng đang sợ hãi điều gì đó.
Hắn cố ý hạ giọng lạnh lùng, chậm rãi hỏi:
“Lần đó, khi đưa Nhị thiếu phu nhân về, hắn làm việc có đàng hoàng không? Có làm điều gì bất kính với khách không?”
“Ta... hắn...” Trương thị đã sợ đến mức mồ hôi lạnh chảy ròng, mặt mày tái mét.
Lục Lân nghiêm giọng:
“Nói thật!”
“Ta không tham gia...” Trương thị cuống quýt nói: “Chỉ là sau đó ta hỏi cháu gái mới biết họ đã lấy tiền của Nhị thiếu phu nhân. Để ta giữ bí mật, họ muốn cho ta tám mươi lượng, nhưng ta chỉ dám nhận năm mươi lượng. Khi đó ta thật sự mờ mắt vì tiền. Từ khi Nhị thiếu phu nhân trở về Lục gia, ta sợ chết khiếp, đêm nào cũng gặp ác mộng, không dám nhìn mặt nàng...”
Lục Lân không ngờ lại khai thác được chuyện này, liền hỏi tiếp:
“Vậy số tiền đó thực sự bị các người lấy đi?”
Trương thị gật đầu, thú nhận:
“Thật ra anh trai ta và bọn họ cũng không cố ý. Lần đó đưa Nhị thiếu phu nhân về, chị dâu ta bị bệnh, con trai cần lấy vợ, con gái cũng sắp gả, trong nhà không có tiền nên cuống quá. Khi nhớ tới chiếc rương mà Nhị thiếu phu nhân ném lại, họ mới nảy sinh ý định.
“Khi đó họ không nghĩ trong rương là tiền, chỉ nghĩ đồ đạc của nhà giàu, có thể chỉ là đồ cũ nát nhưng cũng đáng giá chút đỉnh. Vì vậy họ xuống sông vớt lên, nào ngờ bên trong lại là một rương đầy tiền...
“Sau đó ta mới biết số tiền đó là Nhị công tử đưa cho Nhị thiếu phu nhân. Ta không rõ vì sao Nhị thiếu phu nhân lại ném đi. Nhưng khi ta biết thì họ cũng đã tiêu hết số tiền, lại chia một ít cho ta, ta cũng nhận...”
Trương thị bật khóc, hoàn toàn là vì sợ hãi.
Lục Lân im lặng không nói gì. Nhưng thay vì nổi giận như Trương thị nghĩ, hắn lại vô cùng kinh ngạc và bàng hoàng, như vừa nhận ra điều gì đó.
Hắn luôn không hiểu số tiền của nàng đã đi đâu, và cũng chưa từng nghĩ đến việc nàng lại ném nó đi.
“Anh trai ngươi giờ đang ở đâu? Nói rõ địa chỉ, ta sẽ cho người đến tìm hắn,” Lục Lân nói.
Trương thị sợ hãi tột độ, lo lắng không biết có bị chủ nhân đưa đến quan phủ hay không, run rẩy lắp bắp nói ra địa chỉ hiện tại của Trương Ngũ.
Từ lời kể của Trương thị, Lục Lân biết được rằng Trương Ngũ đã sử dụng 500 lượng bạc đó để gây dựng sự nghiệp, hiện tại đã mở một trạm cho thuê xe ngựa, sở hữu khoảng hai mươi chiếc xe ngựa. Hắn không còn trực tiếp lái xe nữa, chỉ cần thu tiền hoa hồng. Con gái hắn cũng đã gả vào một gia đình thương gia giàu có.
Dù Trương Ngũ đã phát đạt, nhưng vẫn là người chất phác. Khi đột ngột được Lục gia triệu đến, hắn đã cảm thấy bất an. Đến cửa lại thấy em gái mặt mày tái mét, bước vào trong liền gặp Lục Lân với vẻ mặt uy nghiêm, hắn lập tức biết chuyện lớn năm xưa đã bại lộ.
Nhặt được vài đồng trên đường thì không vấn đề gì, nhưng vớt được 500 lượng bạc trong sông mà biết rõ chủ nhân là ai, chẳng khác nào trộm cắp.
Huống hồ, số tiền đó lại thuộc về Lục phủ—một gia đình quyền thế. Làm sao hắn có thể cả gan chiếm đoạt số bạc lớn như vậy?
Quả nhiên, khi Lục Lân gặp hắn, liền hỏi thẳng:
“Chuyện 500 lượng bạc, ta không nhất định sẽ truy cứu tội ngươi. Nhưng những gì ta hỏi tiếp theo, ngươi phải trả lời thành thật, không được che giấu.”
Nghe đến đây, Trương Ngũ nhận ra chính là chuyện này, không biết nên kinh ngạc hay hoảng sợ, liền vội vàng đáp:
“Dạ, dạ... tiểu nhân xin nói thật!”
Lục Lân hỏi:
“Khi đó phu nhân ta đã ném số bạc đó trước mặt ngươi sao? Nàng ném ở đâu?”
Trương Ngũ đáp:
“Dạ, ở ngoài cổng thành, bên dòng sông Lưu Kim, ngay đầu cầu vòm ạ.”
“Nàng ném như thế nào? Có nói gì không?”
Cảnh tượng khi đó quá mức bất ngờ, đến giờ hắn vẫn còn nhớ rõ:
“Khi đó, xe ngựa vừa ra khỏi cổng thành, phu nhân hỏi nơi đó là gì. Tôi đáp là sông Lưu Kim, phu nhân liền bảo tôi dừng xe ở đầu cầu.”
"tiểu nhân dừng xe, khi đó phu nhân bước xuống từ xe ngựa, bắt đầu di chuyển chiếc rương. tiểu nhân thấy chiếc rương được sơn đỏ, lại còn chạm khắc hoa văn, trông có vẻ nặng, liền tiến lên giúp một tay. tiểu nhân hỏi phu nhân muốn chuyển chiếc rương đó đi đâu, phu nhân bảo mang đến bên cầu. Lòng tiểu nhân thấy lạ, nhưng vẫn làm theo," Trương Ngũ kể tiếp, giọng run rẩy.
"Không ngờ, vừa mang chiếc rương đến bên cầu, phu nhân nhìn nó một lúc rồi đột nhiên đẩy rương xuống dưới cầu. tiểu nhân và con gái đều sửng sốt, hỏi tại sao phu nhân lại ném hành lý đi, nàng chỉ nói đó là một vài món đồ cũ không còn dùng được nữa.
"Lúc ấy, tiểu nhân đã nghĩ, cho dù là đồ cũ, nhưng được đựng trong chiếc rương tốt như vậy, chắc chắn không phải là đồ bỏ đi. Hơn nữa, chiếc rương này thôi cũng đáng giá, nếu mang đi cầm cố thì cũng đổi được một ít tiền. Nhưng đó là Truyện_ được_ dịch_ bởi_ dịch_ giả_ Bơ_ Bụi _Bặm đồ của phu nhân, tiểu nhân đương nhiên không dám nói gì. Sau đó, phu nhân lên xe rời đi, tiểu nhân cũng tiếp tục hành trình."
Lục Lân im lặng nhìn hắn, không nói một lời. Trong ánh mắt thâm trầm ấy, không ai đoán được hắn đang nghĩ gì.
Sự im lặng này làm Trương Ngũ càng thêm căng thẳng. Hắn vội nói:
"Thật ra số tiền 500 lượng, ta cũng chỉ dám dùng 200 lượng. Hiện tại ta có thể trả lại ngài ngay lập tức, cả những viên đá quý bên trong, ta cũng không dám bán đi, đều giữ lại. Tất cả ta có thể trả lại ngài."
Nghe vậy, Lục Lân lập tức hỏi:
"Đá quý nào? Ngươi mau nói rõ!" Sau đó hắn ra lệnh: "Bây giờ ngươi hãy mang tất cả những gì còn lại đến đây."
Hắn phái người theo Trương Ngũ quay về lấy đồ. Trương Ngũ trong lòng lo sợ, vội vàng đem nguyên chiếc rương cũ, dùng xe ngựa chở đến.
Không lâu sau, chiếc rương được mang đến trước mặt Lục Lân. Chiếc rương từng bị ngâm nước, lại trải qua nhiều năm, đã cũ kỹ, xộc xệch, không còn vẻ ngoài tinh xảo như ban đầu.
Trương Ngũ vội vã mở chiếc rương ra, chứng minh rằng mình đã thực sự mang 500 lượng bạc trả lại. Bên trong còn có một gói vải nhỏ, hắn cẩn thận đưa lên:
“Đây, cái này cũng được đặt cùng với bạc trong rương. Tất cả đều ở đây.”
Lục Lân nhận lấy gói vải, từ từ mở ra.
Bên trong là một viên đá quý màu vàng, một mảnh vải trông giống như chiếc khăn tay, và một xấp giấy đã bị ngâm nước, sau đó được phơi khô. Những dòng chữ trên giấy đã mờ hoàn toàn, các tờ giấy dính chặt vào nhau, không thể tách rời.
Hắn nhìn chằm chằm vào xấp giấy đó rất lâu, phát hiện có một tờ có thể gỡ ra, liền thử tách ra một nửa. Khi chạm vào độ dày và chất liệu của giấy, hắn chợt nhớ ra đây rất giống loại giấy Tín Dương mà hắn thường dùng trong thư phòng năm xưa.
Sao nàng lại có loại giấy dùng trong thư phòng của hắn?
Rồi ký ức ùa về. Hắn từng dạy nàng viết chữ. Những nét bút tùy ý của hắn khi đó, thậm chí không ra hình dáng chữ, nàng vẫn nói muốn mang về xem lại. Khi ấy, hắn chỉ nghĩ nàng là người hiếu học, không ngờ nàng lại giữ tờ giấy đó.
Giờ đây hắn hiểu ra, nàng không thật sự yêu thích thư pháp, điều nàng thực sự yêu thích và muốn nghiên cứu là y thuật. Việc nàng khổ công luyện chữ, giữ lại những nét bút của hắn, có lẽ chỉ đơn giản vì... hắn.
Ánh mắt hắn chuyển qua chiếc khăn tay. Đó chính là chiếc khăn mà hắn từng sử dụng và tặng cho nàng. Hắn mơ hồ nhớ rằng, nàng từng nói chiếc khăn ấy đã bẩn, không giặt sạch được, và trả lại hắn một chiếc khăn mới. Nhưng chiếc khăn mới nàng đưa cho hắn, giờ ở đâu?
Hắn cố gắng hồi tưởng, nhưng không tài nào nhớ ra. Rõ ràng khi đó hắn đã nhận chiếc khăn, đặt nó lên bàn. Nhưng sau đó thì sao?
Chiếc khăn ấy đã đi đâu?
Hắn không biết. Thật đáng buồn là hắn không hề hay biết.
Nàng đã giữ lại tất cả những gì thuộc về hắn. Nhưng gom đi gom lại, những thứ nàng mang theo chỉ có từng ấy món. Và cuối cùng, T𝓻u̴yện | n𝓱à Bơ̳ vào ngày nàng rời đi, nàng đã cùng với 500 lượng bạc, ném tất cả xuống dòng sông Lưu Kim.
Một luồng khí huyết dâng lên, Lục Lân bất ngờ "ọe" một tiếng, phun ra một ngụm máu tươi.
Trường Hỷ đứng bên ngoài, thấy vậy liền hoảng hốt, ba bước làm hai lao vào phòng, vội đỡ lấy Lục Lân, nói:
“Công tử, chuyện gì vậy? Sao lại như thế này, sao lại nôn ra máu?”
Vừa nói, hắn vừa hướng ra ngoài gọi lớn:
“Người đâu, người đâu, mau đi gọi đại phu—”
Lục Lân giơ tay ngăn hắn lại, ra hiệu không cần gọi đại phu, nhưng hồi lâu vẫn không nói nên lời.
Trương Ngũ kinh hãi quỳ sụp xuống đất, đầu cúi thấp, thân người run rẩy như lá trong gió.
Lục Lân lấy chiếc khăn tay từ trong người ra, nhẹ nhàng lau đi vệt máu nơi khóe miệng, sau đó nhìn Trương Ngũ, nói:
“Ngươi về đi. Số tiền này cứ coi như phu nhân của ta đã tặng ngươi. Những thứ trong gói vải ta sẽ giữ lại.”
Trương Ngũ nghe vậy thì ngây người, không dám tin vào tai mình.
Lục Lân lặp lại:
“Được rồi, mang tiền đi đi.”
Lúc này Trương Ngũ mới chắc chắn rằng hắn thực sự cho mình giữ số tiền ấy. Hắn do dự một lúc, cắn răng đáp:
“Tiểu nhân không dám, số tiền này vẫn nên trả lại công tử, vật về đúng chủ mới phải!”
Trường Hỷ gấp gáp nói:
“Này, công tử bảo ngươi mang đi thì cứ mang đi. Lui xuống đi!”
Trương Ngũ bối rối nhìn Trường Hỷ, cuối cùng lắp bắp đáp:
“Dạ, dạ,” rồi vội vàng thu xếp chiếc rương, lủi thủi rời đi.
Lục Lân ngồi lặng thinh, ánh mắt trống rỗng nhìn ra phía cửa.
Hắn biết, nàng từng yêu hắn. Chính vì yêu hắn mà nàng mới đồng ý gả cho hắn. Nhưng hắn chưa từng biết rằng nàng đã yêu hắn sâu đậm đến thế.
"Cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc truyện tại nơi mà bé mèo Bơ nhà chúng mình luôn được nhắc đến với tất cả yêu thương. Hy vọng những câu chuyện nơi đây mang lại cho bạn niềm vui, giống như cách Bơ mang lại niềm vui cho chúng mình!"
Việc đòi 500 lượng bạc, hóa ra chỉ là một cái cớ. Ngay từ khoảnh khắc ấy, nàng đã quyết định không yêu hắn nữa, quyết định chôn vùi tình yêu dành cho hắn vào quá khứ.
Cảm giác chua xót dâng lên trong miệng, tựa như vị tanh ngọt của máu. Hắn lại thấy mình sắp nôn ra một ngụm máu nữa.
Nhưng lần này, máu đó không chỉ vì bệnh tật, mà là vì món nợ tình cảm hắn mắc với nàng.
Và hắn hiểu rõ, món nợ ấy, cả đời này hắn cũng không thể trả hết.
------------
Hai ngày sau, Sư Uyển nhận được tấm kim bài do Thái Y Cục phát và đã thuê xong xe ngựa. Nàng sắp xếp ổn thỏa với chưởng quỹ của khách điếm Lộc An, chuẩn bị rời đi.
Vừa nói chuyện xong, khi quay đầu lại, nàng thấy Thạch Toàn đang cưỡi ngựa đứng chờ bên cạnh xe ngựa.
Lúc này, Thạch Toàn lấy từ trong người ra một thẻ bài, nói với phu xe:
“Ta là hộ vệ của Lục Tử Vi đại nhân, Thượng thư Bộ Công. Công tử nhà ta lệnh cho ta đi cùng để bảo vệ hai vị cô nương. Ta có lệnh bài và phù hiệu trạm dịch, trên đường nếu gặp chuyện gì, sẽ có người hỗ trợ.”
Phu xe thoáng ngơ ngác, ngước nhìn người đàn ông cưỡi ngựa cao to, rồi lại nhìn sang Sư Uyển và Tỳ Bà, lập tức lộ vẻ sợ hãi, nói vội:
“Dạ, dạ, tiểu nhân nhất định sẽ cẩn thận lái xe, đưa hai vị cô nương bình an về An Lục.”
Sư Uyển tiến lại gần, Thạch Toàn lập tức xuống ngựa, cúi chào nàng và nói:
“Sư đại phu, Tỳ Bà cô nương.”
“Không cần ngươi đi cùng, chúng tôi có thể tự về được.”
Thạch Toàn vội đáp:
“Sư đại phu, đây là lệnh của công tử. Ta không dám kháng lệnh.” Vừa nói, ánh mắt hắn liếc về phía sau lưng nàng.
Cảm thấy có điều bất thường, Sư Uyển quay lại nhìn. Quả nhiên, ở đằng xa, nàng thấy bóng dáng Lục Lân đang đứng quan sát.
Hắn đứng từ xa, không đến gần. Vì vậy, nàng không thể tiến lên để nói thẳng rằng nàng không muốn gặp hắn.
Khoảnh khắc ấy, ký ức về chuyện của Vệ Siêu lại ùa về.
Có thật là hắn làm không? Liệu nhà họ Vệ có phát hiện được manh mối nào rồi nghi ngờ hắn không? Họ vốn là thân thích của hoàng gia, không phải chuyện nhỏ.
Lục Lân thấy nàng chăm chú nhìn về phía mình, không kìm được mà thúc ngựa tiến lên, dường như muốn nói gì đó.
Nhưng đột nhiên, nàng lấy hết can đảm, quay người bước thẳng lên xe ngựa, không thèm để ý đến Thạch Toàn nữa. Đợi Tỳ Bà cũng lên xe, nàng liền nói với phu xe:
“Đi ngay đi.”
Phu xe vội giật dây cương, xe ngựa bắt đầu lăn bánh.
Lục Lân thúc ngựa đuổi theo, nhưng khi đến gần, xe ngựa của nàng đã đi xa.
“Công tử...” Thạch Toàn gọi.
Lục Lân nhìn theo chiếc xe ngựa đang dần khuất bóng, giọng trầm buồn:
“Ngươi đi đi, bảo vệ nàng cho tốt.”
“Dạ, công tử.” Thạch Toàn lập tức thúc ngựa đuổi theo xe.
Xe ngựa và bóng Thạch Toàn trên lưng ngựa mỗi lúc một xa, rồi biến mất khỏi tầm mắt.
Lục Lân bỗng nhiên không biết phải đi đâu.
Nhìn trời đất mênh mông, lòng hắn trống rỗng, như thể một nửa cơ thể đã bị cắt rời.
Hắn cưỡi ngựa, để mặc dây cương trôi theo ý ngựa, chậm rãi lững thững, cuối cùng đến một con phố gần cổng nam thành. Truyện_ được_ dịch_ bởi_ dịch_ giả_ Bơ_ Bụi _Bặm
Từ xa vọng lại tiếng trống chiêng rộn rã, chẳng mấy chốc, một đoàn rước dâu xuất hiện trên đường. Một chiếc thuyền hoa rực rỡ sắc màu, đội kèn trống vui nhộn, và những nắm kẹo cưới được rải khắp phố. Đám đông tụ họp đông hơn hẳn thường ngày, sắc đỏ tràn ngập khắp nơi càng làm tăng bầu không khí náo nhiệt. Nhưng trong mắt Lục Lân, màu đỏ ấy lại chỉ làm tăng thêm nỗi cô quạnh và buồn bã.
Hắn lùi sang một bên đường, lặng lẽ quan sát.
Hắn cũng từng là tân lang, người tân nương chính là nàng. Nhưng... hắn chưa từng thực sự cảm nhận được khoảnh khắc ấy, niềm vui trọn vẹn ấy.
Một cơn đau nhói dâng lên trong ngực.
Đoàn rước dâu dần tiến đến gần hơn, và lúc này, hắn nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ. Phía trước là tân lang cưỡi ngựa, trên ngực cài hoa đỏ. Nhưng phía sau không phải là một chiếc kiệu cưới đỏ thắm, mà là một cỗ quan tài được buộc dây lụa đỏ, do mười sáu người khiêng.
Cưới hỏi và tang lễ trong cùng một sự kiện—một sự kết hợp kỳ dị đến rợn người. Không có gì lạ khi thu hút nhiều người hiếu kỳ đến vậy.
Bên dưới ngựa, có người cất tiếng hỏi:
“Rốt cuộc chuyện này là thế nào? Sao lại khiêng một cỗ quan tài thế kia? Thật đáng sợ! Đây là cưới hỏi hay là tang lễ?”
Người phụ nữ trung niên cầm giỏ rau đứng cạnh giải thích:
“Chị chưa nghe chuyện này sao? Chính là chuyện xảy ra cách đây mấy hôm thôi. Đó là con trai của nhà trà quán phía Đông và con gái của nhà cờ quán cùng phố. Hai đứa chúng nó từ nhỏ đã chơi thân, lớn lên bên nhau, sớm đính ước hôn nhân. Ai ngờ mấy năm trước, cha cô gái qua đời, anh trai và chị dâu cô ấy lại muốn ép cô gả cho ông Kim, chủ một sòng bạc ở phố Nam Bảo. Cô gái không chịu, ôm tín vật đính ước của vị hôn phu mà đập đầu tự vẫn, đến chết tay cũng không chịu buông tín vật ra.
“Cậu trai ở nhà trà quán cũng là kẻ si tình. Biết chuyện xảy ra, cậu nhất quyết tổ chức hôn lễ, nói rằng phải rước cô về nhà, rồi chôn cất trong phần mộ tổ tiên. Thế nên mới có cảnh này, khiêng cả cỗ quan tài về nhà, nói là trước tiên sẽ bái đường, sau đó mới đưa cô ấy đi chôn cất.”
Người phụ nữ hỏi chuyện nghe xong, không kiềm được nước mắt, cảm thán:
“Thật là đôi uyên ương tốt, vậy mà gặp phải anh trai chị dâu khốn nạn như vậy. Ông trời đúng là chẳng có mắt.”
Người phụ nữ cầm giỏ rau hừ lạnh:
“Ông trời bao giờ có mắt chứ? Cái cặp anh chị kia đỏ mắt vì tiền của ông Kim mà thôi. Nhà mở trà quán thì kiếm được bao nhiêu, nhưng sòng bạc thì lại giàu lắm!”
Đoàn rước dâu chầm chậm đi qua trước mặt Lục Lân. Sắc đỏ của áo cưới và sắc đen của quan tài nổi bật đến nhức mắt, như một nỗi đau đớn hiện hữu.
Không ai có thể chống lại số mệnh. Sinh ly tử biệt là bức tường không thể vượt qua.
Còn hắn và Sư Uyển thì sao?
Dẫu hắn đã dặn dò Thạch Toàn, dẫu hắn đã nhờ cậy mọi người có thể nhờ cậy ở An Lục, nhưng cuối cùng, hắn vẫn không thể gặp lại nàng.
Lòng Lục Lân chùng xuống, một nỗi bất lực nặng nề bao phủ. Hắn chỉ có thể đứng nhìn, để lại những điều chưa kịp nói, mãi mãi xa cách nàng.
Nếu có một ngày, sinh lão bệnh tử chia cắt họ mãi mãi, hắn sẽ làm sao để bày tỏ những tâm tình giấu kín trong lòng, làm sao để giữ lại chút hy vọng mong manh rằng hai người có thể tái ngộ?
Nếu thật sự không bao giờ gặp lại nàng nữa, hắn sẽ phải đối mặt thế nào? Hắn sẽ mang bao nhiêu tiếc nuối?
Có gì đau đớn hơn sự chia ly tuyệt vọng của cái chết?
Hắn thực sự phải cam chịu số phận như vậy sao?
Hắn biết rõ lòng mình, hắn không muốn điều đó.
"Giá—"
Bất chợt, hắn thúc ngựa, lao như gió về phía cổng thành.
Hắn từng đầy ảo tưởng tự cho mình là đúng, từng chìm trong sự hối hận và mất mát không thể cứu vãn. Hắn từng nghĩ, nếu nàng thật sự không muốn gặp lại hắn, có lẽ để nàng được tự do là điều tốt nhất cho nàng.
Nhưng giờ đây, hắn nhận ra không phải như vậy.
Hắn từng làm tổn thương nàng, vậy thì chính hắn phải xoa dịu vết thương đó. Nàng từng vì yêu hắn mà rơi vào tuyệt vọng, vậy thì chính hắn phải bù đắp tình yêu đó, phải khiến nàng có lại niềm tin vào hắn. Những gì nàng đã chịu đựng—từ tình cảm vô vọng nàng dành cho hắn, đứa con họ đã mất, đến những tổn thương từ Lục gia hay Vệ Siêu—mọi đau khổ ấy, hắn hiểu rõ, vậy thì hắn không thể để nàng tiếp tục chịu đựng một mình.
Hắn không muốn buông tay.
Hắn muốn níu kéo.
Hắn muốn bằng mọi cách, giữ nàng lại bên mình.
Nhận xét Box